Ung thư, tìm hiểu nguyên nhân, cách phòng và trị bệnh!

Tế bào ung thư

1. Ung thư là gì:

Ung thư là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới.

Ung thư là tên chung dùng để gọi một nhóm bệnh khác nhau về nguồn gốc của tế bào, căn nguyên, tiên lượng và cách thức điều trị nhưng có những đặc điểm chung, đó là sự phân chia không kiểm soát được của tế bào, khả năng tồn tại và phát triển ở các cơ quan và tổ chức lạ.

Các Ung thư thường phát triển từ một tế bào ban đầu và phải mất nhiều năm cho tới khi có một kích thước đủ lớn để có thể nhận thấy được. Vì vậy thường rất khó nhận biết được sự có mặt của tế bào ung thư ở giai đoạn sớm.

Các tế bào ung thư có liên kết lỏng lẻo, dễ dàng bứt ra khỏi khối u mẹ, theo mạch máu và mạch bạch huyết di cư đến các tổ chức và cơ quan mới, bám lại và tiếp tục sinh sôi nẩy nở. Tế bào ung thưthường di chuyểnđến các bộ phận yếu nhất và nhiều a-xít nhấtcủacơ thể, nơi đó chính là môi trường tốt nhất để phát triểnvà hình thànhcác khối u mớimàlấn sang các mô bình thường. Quá trình này gọi là “di căn”.

Phân loại giai đoạn ung thư theo giai đoạn:

  • Gđ 0:Ung thư tại chỗ( ung thư không phá vỡ màng đáy, không xâm nhập tại chỗ, không lan rộng tại vùng hoặc di căn xa)
  • Gđ 1:Bướu nguyên phát có thể tích nhỏ không kèm hạch không di căn xa
  • Gđ 2: Bướu ăn lan tại chỗ hơn xèm theo sự xâm nhập hạch ở mức tối thiểu.
  • Gđ 3: Bướu tràn ngập cơ quan bị bệnh hoặc kèm theo hạch quan trọng.
  • Gđ 4: Bướu không thể mổ được nữa vì đã ăn lan quá rộng, có kèm theo hay không hạch quan trọng hoặc có di căn xa có thể phát triển được.

2. Nguyên nhân gây Ung thư:

Theo đề tài đạt giải Nobel Sinh lý học và Y khoa năm 1931 của tiến sĩ, bác sĩ Otto Heinrich Warburg, nguyên nhân gốc rễ gây ung thư chính là do thiếu hụt oxy tế bào tạo ra tính acid trong cơ thể, có nghĩa là khi đó độ pH<7.365. Ngược lại, môi trường acid sẽ lại gây ra tình trạng thiếu oxy.

Khi cơ thể có nhiều acid trong một thời gian dài sẽ làm thay đổi môi trường máu, các mô và tế bào, làm giảm nồng độ oxy trong máu. Tình trạng này gây ra các hiệu ứng khác nhau như tăng tiết acid lactic, tăng sản sinh các gốc tự do có hại và tăng khả năng nhiễm khuẩn. Những hiệu ứng này tạo thành một vòng xoắn bệnh lý và cũng từ đó, gây tổn hại đến ADN của các tế bào và các enzym hô hấp.

Tế bào ung thư
Tế bào ung thư

Như vậy, các tế bào có ADN lỗi sẽ phát sinh hàng loạt trong khi đó khả năng sửa chữa của cơ thể và hệ miễn dịch bị suy giảm khi đó ung thư có thể xuất hiện và phát triển mạnh mẽ.

Các nhà khoa học đã chỉ ra chỉ có dưới 10% bệnh ung thư phát sinh do các rối loạn từ bên trong cơ thể, gồm các rối loạn nội tiết, tổn thương có tính di truyền, là những nguyên nhân gây ung thư này thường không thay đổi được.

Ngược lại, có đến hơn 80% nguyên nhân gây ung thư phát sinh có liên quan đến yếu tố môi trường sống, bao gồm: lối sống thiếu khoa học, các thói quen, tật xấu như hút thuốc, uống rượu, chế độ dinh dưỡng không an toàn…

Thuốc lá:

Hút thuốc lá được kể đến hàng đầu, đây là nguyên nhân gây ung thư chiếm 30% trong tổng số các loại ung thư ở người, bao gồm ung thư phổi, thanh quản, thực quản, khoang miệng, bàng quang, tụy, dạ dày.
Trong khói thuốc không chỉ có chất nicotine ảnh hưởng đến hệ tim mạch mà còn có trên 40 loại hóa chất khác nhau gây ung thư. Những người không hút thuốc mà sống cùng với người hút thuốc thì cũng có nguy cơ mắc các loại bệnh liên quan.

Chế độ ăn uống không hợp lý và ô nhiễm thực phẩm:

Chế độ ăn nhiều chất mỡ động vật, ít chất xơ làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại – trực tràng và ung thư vú. Các chất bảo quản thực phẩm, các chất nhuộm màu thực phẩm có nguồn gốc hóa học, các chất trung gian chuyển hóa và sinh ra từ thực phẩm bị nấm mốc, lên men là nguyên nhân gây ung thư như ung thư đường tiêu hóa như ung thư dạ dày, ung thư gan, ung thư đại tràng…

Ô nhiễm môi trường:

Khói bụi, ô nhiễm không khí và chất thải công nghiệp dù với nồng độ nhỏ nhưng chúng ta tiếp xúc hàng ngày sẽ tích luỹ lâu thành lượng lớn, nồng độ cao sẽ gây ra độc tính khiến cho con người có sự phản ứng sinh lý khác thường.

Ở nước ta, thuốc trừ sâu diệt cỏ dùng phổ biến trong nông nghiệp là nguyên nhân gây ung thư vú và một số loại ung thư khác. Một tác nhân nữa gây ung thư là các hóa chất sử dụng trong công nghiệp.

Bức xạ ion hóa:

Bức xạ ion hóa như tia Rơn-ghen, phát ra từ các chất phóng xạ, máy chiếu chụp X-quang dùng trong y học và một số ngành công nghiệp, có khả năng gây tổn thương gen và sự phát triển tế bào. Loại nguyên nhân này chiếm 3% trong số các trường hợp ung thư.

Tia cực tím:

Tia cực tím có trong ánh sáng mặt trời cũng là nguyên nhân gây ung thư da.

Nhiễm vi rút, vi khuẩn:

Vi rút Epstein-Barr (EBV): có liên quan đến ung thư vòm mũi họng, ung thư hạch lymphô. Vi rút viêm gan B, C: gây ung thư gan nguyên phát.

Vi rút gây u nhú (Papiloma Human Virus – HPV): nguyên nhân gây đến 70% ung thư tử cung.

Vi khuẩn Helicobacter Pylori (HP): là vi khuẩn gây viêm loét dạ dày – tá tràng và ung thư dạ dày.

3. Các phương pháp điều trị ung thư:

Có rất nhiều phương pháp điều trị ung thư hiện nay. Điều này bao gồmcảphương pháp điều trịtruyền thống(chẳng hạn như phẫu thuật, hóa trị và xạ trị…). Hay hình thức mới hơncủađiều trị đó làphương pháp điều trịbổ sung vàthay thế, liệu pháp miễn dịch…

Phẫu thuật (Cancer Surgery)

  • Phẫu thuật là phương pháp điều trị ung thư cổ xưa nhất. Theo các tác giải Timothy.J.Eberlein, Richard E.Wilson hoặc Steven A.Rosenberg…thì ngày nay 60-75% bệnh nhân ung thư được điều trị bằng phẫu thuật.

Ưu điểm:

+Các loại bướu ác không có sự đề kháng sinh học đối với kỹ thuật ngoại khoa.

+ Phẫu thuật không có những tác dụng có tiềm năng sinh ung thư.

+ Phẫu thuật có khả năng điều trị một số lớn ung thư ở giai đoạn tại chỗ và tại vùng (gđ sớm).

+Phẫu thuật cho phép đánh giá rõ mức độ lan rộng của ung thư cũng như tạo điều kiện xác định đặc tính mô học của bướu làm cơ sở cho sự xếp hạng bệnh lý chính xác.

Nhược điểm:

+Mổ cắt bỏ không mang tính chất đặc thù đối với bướu ác tính, nghĩa là mô lành và mô bướu đều được hủy diệt như nhau.

+ Bất cứ loại phẫu thuật nào cũng có khả năng đưa đến những tác hại nặng nề về sức khỏe cũng như có thể gây ra thương tật hoặc mất một vài chức năng sinh lý thậm chí có thể tử vong. Bác sỹ phẫu thuật có khi phải cân nhắc và giới hạn mức độ rộng của phẫu thuật để tránh tổn thương những cấu trúc khác của cơ thể.

+ Những tổn thương ác tính đã tiến triến qua giai đoạn tại chỗ thì không được trị khỏi chỉ bằng phẫu thuật đơn thuần.Phẫu thuật cắt bỏ có tính trị khỏi có ở 30% bệnh nhân khi điều trị phẫu thuật đơn thuần vì hầu hết ung thư đã có di căn vi thể ở thời kỳ chẩn đoán.

Thường bạn tưởng là “đã lấy hết đi khối u”, nhưng bạn tưởng tượng 1 tỉ tế bào ung thư mới bằng đầu tẩy ở cây bút chì, nếu chỉ 1 vài trong số hàng tỉ tế bào ung thư đó thoát được khỏi dao mổ của bác sĩ thì ung thư của bạn chắc chắn tái phát và tệ hơn nhiều do khả năng di căn gần như chắc chắn xảy ra.

Hóa trị liệu (Chemotherapy)

Hóa trị ung thư( cancer chemotheraphy) là một trong các biện pháp điều trị ung thư mang tính chất toàn thân, là phương pháp điều trị dùng thuốc hóa học có tính gây độc tế bào (xytotoxic drugs).

Bên cạnh khả năng điều trị và làm giảm thiểu các triệu chứng có liên quan tới ung thư thì tác dụng phụ (độc tính) của thuốc cũng rất đáng lưu ý. Hóa trị ức chế tăng trưởng của tế bào ung thư cũng ức chế tăng trưởng của tế bào lành nhất là các tế bào có tốc độ tăng trưởng nhanh như niêm mạc ống hóa, hệ tạo huyết, tế bào sinh dục…thường có biểu hiện độc tính rõ nét nhất.

  • Phản ứng tức thời: Có thể gây sốc phản vệ nhưng hiếm khi xảy ra.
  • Phản ứng sớm: Xảy ra trong vòng vài ngày sau hóa trị: nôn ói dữ dội, mệt mỏi, sốt, phản ứng giả cúm.
  • Phản ứng trễ: Vài ngày đến vài tháng sau hóa trị:

+ giảm sinh tủy: giảm bạch cầu, thiếu máu, thiếu thiểu cầu, sức đề kháng giảm.

+ Rối loạn tiêu hóa: Chán ăn, tiêu chảy, táo bón.

+Hệ da lông: Rụng tóc, thay đổi màu sắc móng..

+Hệ thần kinh: Dị cảm đầu chi, giảm thính lực

+Hệ sinh dục: Rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, vô sinh, quái thai…

  • Phản ứng muộn:

+ Vô sinh

+ Đột biến di truyền cho thế hệ sau

+ Ung thư mới

+ Suy tim, phổi…

Xạ trị liệu

Xạ trị là sử dụng tia phóng xạ để điều trị. Xạ trị có thể một mình điều trị khỏi các ung thư hoặc cũng có thể kết hợp với các phương pháp khác nhằm mục đích phòng ngừa tái phát, di căn hoặc điều trị triệu chứng của ung thư như giảm đau, giảm áp, cầm máu, giảm tổng khối bướu và hỗ trợ cho phẫu trị hoặc hóa trị.

Tác dụng điều trị của Xạ trị trên bệnh nhân ung thư là không thể phủ nhận, tuy nhiên không thể không kể tới những tác động đến mô lành trong quá trình xạ trị:

  • Các phản ứng sớm: Xuất hiện vài ngày hay vài tuần sau xạ trị, do sự chết một số lớn tế bào trong mô có sự tăng trưởng nhanh, sẽ phục hồi sau vài tuần do sự tái lập dân số từ các tế bào mầm còn lại.
  • Các phản ứng muộn: thường ít hồi phục, xuất hiện vài tháng tới nhiều năm sau:

+ Hệ tạo máu: Tủy xương là các mô thay đổi nhanh, các tế bào máu rất nhạy tia. Xạ trị gây ra sự giảm các tế bào máu. Trường hợp xạ trị toàn thân không kèm ghép tủy dẫn tới tử vong 50% với liều 4,5 Gy do nhiễm trùng máu và xuất huyết trầm trọng. Khả năng sửa sữa của các tế bào gốc trong tủy rất kém, xạ trị thường chiếu rộng dẫn tới tình trạng suy tủy mạn tính.

+ Da: Tia phóng xạ tác động lên xa sẽ gây ra:

Viêm da cấp: Rụng lông, hồng ban, phù nề, giảm bài tiết mồ hôi, tróc da… Tình trạng viêm da cấp nặng nề hơn nếu sử dụng đồng thời hóa trị liệu.

Viêm da mạn: Da teo, mất màu, khô, mất lông, những mảng dãn mao mạch và thường đi kèm tình trạng xơ hóa dưới da. Nguy cơ chính là sự hoại tử da tự nhiên hoặc chỉ cần một chấn thương nhẹ, đó là những vết loét sâu rất khó lành đôi khi phải ghép da.

+Ngoài ra còn rất nhiều ảnh hưởng khác trên hệ hô hấp, tiêu hóa…: mệt mỏi, lừ đừ, nôn ói, tiêu chảy, tiểu nhiều hoặc tiểu khó, viêm gan cấp hoặc viêm giác mạc, đục thủy tinh thể mù lòa…

CÁC GIẢI PHÁP CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ

1. Sản phẩm TABO K

Ung thư là 1 trong những “tứ chứng nan y”, từ xưa tới nay ung thư là căn bệnh đã và đang là vấn đề bức thiết của nền y học, không những ở nước ta và cả những nước phát triển trên thế giới. Không những thế ung thư ngày càng diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng ở người trẻ. Ung thư là nỗi đau của hàng trăm ngàn người, là nỗi đau của cả gia đình và của cả xã hội. Chính vì vậy, Gaphaco cho ra đời sản phẩm Tabo K có tác dụng hỗ trợ điều trị ung bướu. Sản phẩm là công trình nghiên cứu của các nhà khoa học là các giáo sư tiến sĩ nhiều năm kinh nghiệm trong suốt hơn 10 năm đã được ứng dụng trên rất nhiều bệnh nhân tình nguyện với kết quả rất khả quan. Nay đã được công nhận và cấp phép lưu hành của Bộ y tế. Gaphaco hi vọng phần nào có thể xoa dịu nỗi đau và kéo dài sự sống cho những bệnh nhân ung thư.

Thành phần công dụng của Tabo K:

Cao bán chi liên: Chứa thành phần chủ yếu là Scutellarein – một chất thuộc nhóm flavonoid. Đây là chất có vai trò quan trọng trong đối với cơ thể. Trước hết nó là một yếu tố cần thiết để cơ thể hấp thuVitamin C, ngoài ra còn cần thiết cho việc duy trì xương, răng và sản xuất collagen protein là chất được dùng để tạo ra các mạch máu và các mô cơ. Thứ hai, đây là một chất chống oxy hóa mạnh mẽ – là yếu tố then chốt giúp ngăn ngừa và chữa bệnh ung thư.

Tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, trị ung thư, lợi tiểu tiêu sưng, giảm đau. Phá huyết thông kinh lạc, tiêu viêm tán ứ, cải thiện hiệu quả các triệu chứng trong điều trị ung thư.

Bán chi liên khi được kết hợp với cây bạch hoa xà thiệt thảo sẽ giúp cơ thể đào thải chất độc, tiêu U bướu rất nhanh.

Cao cỏ lưỡi rắn (bạch hoa xà thiệt thảo): Cỏ lưỡi rắn có khả năng chống phân bào, ngăn chặn di căn và kháng nhiều loại tế bào ung thư do thành phần có chứa các hoạt chất như methylanthraquinone, Oleanolic acid….

Có tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, lợi niệu, khử ứ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). Ngoài ra, Cao cỏ lưỡi rắn còn có tác dụng điều hòa miễn dịch, chống viêm, kháng khuẩn- chống khối u vô cùng hiệu quả.

Chủ trị các loại sưng đau do ung thư, các loại nhiễu trùng như viêm họng, thanh quản, viêm ruột thừa, viêm phế quản cấp mãn tính…

Trong một số tài liệu y học của Trung Quốc gần đây (Chinese herbal medicine – Materia Medica (1992), Trung dược đại từ điển, Thường dụng thảo dược trị liệu thủ sách…), các nhà y học đã ứng dụng 2 vị thuốc bán chi liên và bạch hoa xà thiệt thảo để bổ trợ cho việc chữa trị một số bệnh ung thư trong thời kỳ đầu (phát hiện sớm) như: ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư gan, ung thư tử cung.

Cucumin phytosome: Curcumin thông thường là tinh chất của củ nghệ vàng (cucurma longa L) có tác dụng ức chế u. Với liều cao Curcumin dùng trong ung thư da, đại tràng, dạ dày, vú, tuyến tụy, ung thư máu…Curcumin còn có hoạt tính ức chế chống viêm cấp tính và viêm mạn tính, tác dụng này có thể do khả năng thu dọn những gốc oxy có liên quan tới quá trình viêm đồng thời chống độc tính của các thuốc triều trị ung thư, hóa trị xạ trị.

Curcumin phytosome là sự kết hợp từ dịch chiết curcumin đã được chuẩn hóa với phosphatidylcholin-một hợp chất tự nhiên từ đậu nành. Sự kết hợp giúp hoạt chất có tính ổn định cáo, tăng sinh khả dụng và hướng hoạt chất đến mô đích hiệu quả hơn.

Linh chi đỏ: Trong 6 loại Linh chi thì Linh chi đỏ được chứng minh là tốt cho sức khỏe hơn cả vì nó thúc đẩy sự làm việc của hệ thống miễn dịch, làm tăng sự hoạt động của cơ thể và chống lão hóa và linh chi đỏ được gọi là linh chi chuẩn để phân biệt nấm linh chi với những loài khác.

Thành phần Polysaccharide trong Linh chi đỏ là thành phần lớn nhất và có công dụng hữu hiệu nhất được các nhà khoa học đánh giá rất cao. Giúp đào thải các chất độc tố độc hại từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể, bảo vệ các tế bào trong cơ thể con người khỏe mạnh, bổ máu, tăng cường lưu thông máu, giảm căng thẳng mệt mỏi.

Nấm Linh Chi hỗ trợ điều trị hiệu quả các chứng bệnh như: Bệnh gút (gout), thiểu năng tuần hoàn não, bệnh huyết áp, mỡ máu, suy nhược thần kinh, gan, thận, giảm quá trình lão hóa của cơ thể, các bệnh về khớp ở người cao tuổi, xơ cứng động mạch, bệnh tiểu đường. Giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, nâng đỡ thể trạng bồi bổ cơ thể, đặc biệt thành phần polysarccharides trong Nấm Linh Chi có tác dụng khống chế sự phát triển của các tế bào bất thường (tác nhân gây ung thư, ung bướu) nên Linh Chi còn được sử dụng trong việc ngăn ngừa ung thư, ung bướu và hỗ trợ điều trị sau hóa trị, xạ trị…

Cao bảy lá một hoa: Người ta thường dùng thân rễ của cây với tên Tảo hưu. Tảo hưu có tác dụng thanh nhiệt giải độc, giảm đau, kháng viêm mạnh, tăng cường chức năng của tuyến thượng thận, an thần,…Đặc biệt có tác dụng ức chế phát triển của tế bào ung thư phổi và ung thư dạ dày, ung thư cổ tử cung…Kéo dài tuổi thọ cho người bệnh..

Tác dụng chống ung thư của thuốc: Thuốc có tác dụng ức chế tế bào ung thư cổ tử cung di thực trên động vật thí nghiệm (theo báo cáo của Sở nghiên cứu Trung y (Trung quốc) về ảnh hưởng của 90 loại trung dược thảo trên tế bào ung thư di thực trên động vật (Tuyển tập Tư liệu khoa học kỹ thuật Viện nghiên cứu Trung y 1972 tr.136-144).

Cao vỏ thông đỏ: Cây thông đỏ được coi là loại dược liệu quý, được dùng trị nhiều bệnh, đặc biệt lá và vỏ cây có thể điều chế các hoạt chất để chữa trị ung thư. Vỏ và lá cây thông đỏ, chứa chất paclitaxel với hàm lượng khoảng 0,045 – 0,13%, có tác dụng diệt một số loại tế bào ung thư.

Hoạt chất Paclitaxel tác động lên tế bào ung thư thông qua cách bám vào ống vi thể, ngăn chặn sự phân bào dẫn đến sự chết đi của tế bào ung thư.

Tác dụng: Tiêu tích, thông kinh mạch, giảm đau

Công dụng: Paclitaxel dùng trong điều trị ung thư buồng trứng di căn và ung thư vú di căn, sau khi không đạt kết quả với liệu pháp chuẩn.

Thymomodulin: Thymomodulin – 1 chiết xuất sinh học từ tuyến ức con bê theo phương pháp bào chế công nghệ cao là phát minh hoàn toàn mới, giúp con người có thể tự chống chọi với bệnh tật trong giai đoạn sớm mà không phải sử dụng tới thuốc.

Thymomodulin có tác dụng thúc đẩy sự sản sinh cảu các tế bào miễn dịch, tăng cưởng chứ năng của các tế vào Lympho T, lympho B trưởng thành và đại thực bào.
Vì vậy, Thymomodulin thích hợp với những người miễn dịch kém, thiếu hụt kháng thể, người đang dưỡng bệnh, người phục hồi sau chấn thương, mổ, người ốm lâu ngày, người bị viêm loét, người đang điều trị ung thư bằng hóa trị, xạ trị…

Kẽm gluconat: Kẽm gluconat được tổng hợp theo các phương pháp hiện đại và là một thành phần quan trọng của rất nhiều loại thuốc. Và khi được hấp thụ vào cơ thể thì kẽm gluconat có tác dụng như vi chất kẽm.

Kẽm tham gia vào hệ thống miễn dịch giúp phòng chống các bệnh nhiễm trùng. Kẽm còn giúp làm mau lành các vết thương, kích thích sự phát triển của các tế bào mới, phục hồi các tế bào đã bị các gốc tự do làm tổn thương.

Selen và beta caroten: Selen có những lợi ích rất quan trọng, nó làm giảm độc tính của các kim loại độc và tăng cường đào thải chúng ra khỏi cơ thể. Đây còn là một chất chống oxy hóa mạnh giúp tăng cường miễn dịch, làm chậm sự phát triển của khối u, kéo dài thời gian sống của bệnh nhân ung thư.

Beta caroten là tiền chất của vitamin A, giúp cơ thể phòng tránh được tình trạng thiếu hụt vitamin A, ngăn chặn mù lòa, làm lành mạnh hóa hệ miễn dịch. Bên cạnh đó, beta caroten còn sở hữu trong mình một khả năng chống oxy hoá ưu việt vì nó có tác dụng khử hết gốc tự do dư thừa trong cơ thể. Vì thế, beta caroten giúp bảo vệ màng tế bào, làm chậm quá trình lão hoá, ngăn ngừa ung thư.Selen kết hợp với beta caroten làm giảm tử vong do ung thư da, ung thư tuyến tiền liệt…

Vitamin B1, B5, B6:

B1: tham gia vào các quá trình chuyển hóa glucid, tham gia tổng hợp acetycholin và các chuyển hóa acid amin…

B5: là thành phần quan trọng cấu tạo nên Coenzym A, thúc đẩy chuyển hóa năng lượng của các tế bào.

B6: Tham gia vào quá trình chuyển hóa acid amin

Các Vitamin này là những hợp chất không thể thiếu, thúc đẩy chuyển hóa năng lượng của các tế bào, tham gia vòa tổng hợp các hormon steroid collagen, củng cố hệ thần kinh traung ương.

Ưu điểm của sản phẩm Tabo-k

Ung thư hiện nay đang là căn bệnh có mức độ tử vong cao. Việc tìm kiếm các loại thuốc có độc tính trên nhiều dòng ung thư khác nhau nhưng ít tác dụng phụ đang là ưu tiên hàng đầu. Những loại thuốc Tây Y thực ra là các loại hóa chất được tổng hợp lại. Những hóa chất này luôn luôn tồn tại hai mặt tác dụng:

 Tác dụng có lợi: có thể điều trị bệnh cho bệnh nhân.
 Tác dụng có hại: gây ra những tác dụng có hại không mong muốn.

Thuốc Tây Y càng đặc trị chuyên biệt như các thuốc chống ung thư thì tác dụng phụ càng nhiều.

Việc sử dụng thuốc Tây lâu dài hay dùng quá nhiều đều là nguyên nhân làm cho các cơ quan trong cơ thể chúng ta chịu nhiều tác dụng không mong muốn. Gan và thận chính là những cơ quan có chức năng chuyển hóa và thải trừ các loại thuốc này sau khi đã hết tác dụng dược lý, và hai cơ quan này thường bị ảnh hưởng nhiều nhất dẫn đến việc chức năng của hai cơ quan này bị suy giảm đi.

Các thuốc phương pháp hóa trị, xạ trị có thể tiêu diệt tế bào ung thư thì cũng có thể hủy hoại các tế bào lành. Đôi khi người ta không chết vì ung thư nhưng chết vì suy kiệt, các bệnh nhiễm trùng, suy giảm miễn dịch, hoặc biến chứng sau phẫu thuật.

Sản phẩm Tabo-K được chiết xuất hoàn toàn từ các dược liệu quýcó công dụng bổ sung các hoạt chất có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, cải thiện tiêu hóa, hỗ trợ tăng sức đề kháng, giúplành vết thương, chống oxy hóa, đào thải các gốc tự do, giúp ngăn ngừa và hỗ trợ các liệu pháp điều trị u bướu,ung thư, hỗ trợ giảm thiểu độc tính và tác dụng phụ của hóa trị, xạ trị trong điều trị ung thư, bảo vệ hệ miễn dịchvà gan, thận.

Tabo – K có những ưu điểm riêng biệt:

  • Điều đặc biệt hơn là trong Tabo-K có thành phần Curcumin được bào chế dưới dạng Curcumin phytosome – là sự kết hợp từ dịch chiết curcumin đã được chuẩn hóa với phosphatidylcholin-một hợp chất tự nhiên từ đậu nành. Đây là một thành tựu khoa học được cấp bằng sáng chế toàn cầu của Indena (trung tâm nghiên cứu Dược phẩm tại Italy).

Sự kết hợp này đem lại sự vượt trội so với tất cả các dạng curcumin khác như curcumin thường và nano curcumin đó là:

  • Hoạt chất có tính ổn định cao.
  • Tăng sinh khả dụng của hoạt chất so với hoạt chất chiết xuất thông thường (tăng hấp thu, giảm thải trừ).
  • Giảm liều dùng mà không ảnh hưởng tới hiệu quả của thuốc
  • Thời gian hoạt động của hoạt chất được tăng lên.
  • Hoạt chất ổn định hơn trong dịch dạ dày và có khả năng chống lại sự phân hủy của các enzym, các vi khuẩn đường ruột.
  • Tăng cường tính thẩm thấu của các hoạt chất qua các màng sinh học.
  • Tăng khả năng hấp thụ đối với các hoạt chất không tan trong dầu
  • Hướng các hoạt chất tới các mô đích hiệu quả hơn.
  • Chiết xuất từ  thảo dược thiên nhiên nên TABO K hầu như không có tác dụng phụ, an toàn, chỉ cần sử dụng đúng quy cách thì sẽ đạt được hiệu quả rõ rệt. Có thể sử dụng trong một thời gian dài mà không gây độc hại cho cơ thể
  • Tabo-K không chỉ có tác dụng chữa bệnh mà còn giúp cân bằng lại âm dương, hỗ trợ tăng sức đề kháng, bảo vệ hệ miễn dịchvà gan, thận.
  • Tác dụng nhanh, nhận biết tế bào ung thư có tính acid, tế bào khỏe có tính kiềm, do đó làm thay đổi môi trường thụ bệnh của bệnh nhân ung thư, làm cho tế bào ung thư không còn điều kiện phát triển và chết đi.
  • Là sản phẩm của đề tài nghiên cứu hơn 10 năm của các nhà khoa học, các giáo sư tiến sỹ đầu ngành, đã được ứng dụng trên rất nhiều bệnh nhân tình nguyện với kết quả rất khả quan.
  • Được Bộ y tế đã cấp phép lưu hành toàn quốc.
  • Ngày nay, với nền hóa dược phát triển mạnh mẽ đã gặt hái đạt được những thành tựu lớn lao, tuy nhiên cũng tồn tại song song nhiều bất cập, khiến cho mọi người có xu hướng quay lại với các bài thuốc từ nguồn thảo dược thiên nhiên. TABO K là một trong những sản phẩm tiên phong cho sự phát triển của nền Y học cổ truyền dân tộc, góp phần phát triển nền Y học cổ truyền trong nước và trên Thế Giới.

2. Dinh dưỡng

Suy nhược cơ thể là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong của bệnh nhân ung thư. Một tỷ lệ lớn bệnh nhân chết về suy nhược trước khi chết về ung thư. Bệnh nhân thường mang tâm trạng buồn rầu vì lo lắng cho tình trạng bệnh của mình. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề ăn uống khiến bệnh nhân có cảm giác ăn không ngon, chán ăn, suy nhược cơ thể, buồn nôn, nôn, rối loạn tiêu hóa…Vậy chế độ ăn của bệnh nhân ung thư như thế nào là hợp lý ?

  • Chế độ “bỏ đói” tế bào ung thư:

Bệnh nhân ung thư (BNUT) không được chăm sóc dinh dưỡng đúng trong suốt thời gian trị bệnh nên đã dẫn đến tình trạng sụt cân, suy dinh dưỡng và suy kiệt trầm trọng hơn. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng chỉ cần sụt 5% cân nặng đã rút ngắn 1/3 thời gian sống của bệnh nhân.

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm Việt Nam có khoảng 95.000 bệnh nhân chết vì ung thư, trong đó 80% bị sụt cân, 30% chết vì suy kiệt trước khi qua đời do khối u. Đa số bệnh nhân ung thư chỉ tập trung vào điều trị mà chưa chú trọng đến chế độ dinh dưỡng để nâng cao thể trạng. Rất ít bệnh nhân quan tâm đến việc ăn uống thế nào cho hợp lý. Nhiều bệnh nhân thiếu hiểu biết, do lo sợ bệnh ung thư phát triển hoặc tái phát còn ăn kiêng quá mức dẫn đến sụt cân, suy dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống hoặc các bệnh lý về nhiễm trùng và không đủ sức khỏe để đáp ứng điều trị, phải bỏ cuộc giữa chừng. Vì vậy trước khi áp dụng một phương pháp nào đó trong điều trị cần tìm hiểu rõ ràng.

Ở Mỹ nhóm nghiên cứu TS. Valter Longo đứng đầu, đã nghiên cứu chế độ ăn được gọi là “bỏ đói” tế bào ung thư. Nghiên cứu này được tiến hành thí nghiệm trên chuột và có những kết quả rất khả quan. Tuy nhiên, để thực hiện thí nghiệm trên người thì chưa ai muốn thử vì họ vẫn còn e ngại những rủi ro có thể xảy ra. Và để đưa vào ứng dụng thì còn phải tiến hành những nghiên cứu sâu hơn nữa. Do vậy, con đường “bỏ đói ung thư” đối với người vẫn chưa được chứng minh rõ ràng và chưa được coi là chính thống.

Nhìn chung, một chế độ ăn thông thường cần đầy đủ dinh dưỡng, giàu vitamin, thêm rau xanh, chất xơ: nhiều cá, ít thịt (đặc biệt là thịt đỏ); nước, dầu thực vật, tăng cường rau quả tươi và nước ép. Thế nhưng, đối với người bệnh đang điều trị ung thư đặc biệt là đang truyền hóa chất thì nguy cơ giảm bạch cầu rất cao, bạch cầu cần nguyên liệu là protid mà protid trong động vật rất quan trọng, do vậy, khuyến khích chế độ đạm cho bệnh nhân. Nếu bạch cầu giảm nhiều quá phải dùng đến thuốc kích cầu.

Ăn đúng trước, trong và sau khi điều trị có thể giúp cho bệnh nhân giảm thiểu được những bất lợi do các tác dụng phụ của phương pháp điều trị và giúp bệnh nhân có cảm giác sống khoẻ hơn. Để đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, người bệnh cần phải ăn uống đầy đủ thực phẩm đảm bảo các nhóm chất: đạm – bột đường – béo – vitamin, khoáng chất – nước.

Một chế độ ăn nhiều cá, rau, ít thịt, thêm dầu thực vật, uống nhiều nước và vận động, tập thể dục thể thao….sẽ giúp cơ thể đủ chất dinh dưỡng và sức khoẻ để chống lại ung thư chứ không phải là “cung cấp thêm chất đạm cho khối u” như nhiều người vẫn lầm tưởng.

Sau phẫu thuật và điều trị, bệnh nhân khỏi hoàn toàn, chế độ dinh dưỡng áp dụng như người bình thường để phòng ngừa tái phát, di căn. Tuy nhiên, người bệnh sau khi điều trị bằng hóa chất, tia xạ sẽ tăng nguy cơ ung thư mới, cần thiết tái khám tổng thế sau 6 tháng, 1 năm để theo dõi.

Có một số loại dưỡng chất cần đảm bảo trong bữa ăn hàng ngày đối với bệnh nhân ung thư:

Đạm: Thịt cung cấp cho cơ thể các loại acid amin thiết yếu. Để đảm bảo cung cấp đủ các loại acid amin cần ăn đa dạng các loại thực phẩm, khẩu phần ăn phải cân đối giữa protein động vật và thực vật. Các loại thịt màu trắng như thịt gia cầm sẽ có lợi hơn cho sức khoẻ. Cơ thể cũng cần bổ sung thêm các nguồn sắt, kẽm…từ các loại thịt có màu đỏ như thịt lợn nạc, thịt bò… Các loại tôm, cua, cá, nhuyễn thể và hải sản cũng là nguồn cung cấp các acid amin và vi chất dinh dưỡng quý giá.

Tinh bột: Nên chọn các loại ngũ cốc nguyên hạt (gạo, ngô, lúa mì, hạt lúa mạch), các loại củ (khoai tây, khoai lang, khoai sọ, sắn…). Tránh các loại thực phẩm chế biến sẵn chứa đường đơn, gây nhiều tác hại cho cơ thể, đồng thời các chất phụ gia cho thêm vào thực phẩm trong quá trình chế biến và bảo quản cũng là một trong những nhân tố góp phần làm tăng tỉ lệ bệnh ung thư.

Chất béo (Lipid): Là chất cho giá trị năng lượng cao, giúp hình thành cấu trúc tế bào cơ thể. Do đó trong khẩu phần ăn hàng ngày cần phải có một hàm lượng lipid nhất định, trong đó hàm lượng acid béo không no không quá 50% tổng năng lượng.

Rau quả: Chọn các loại quả tươi sạch, đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo quản trong điều kiện lạnh, hạn chế làm mất các vitamin trong quá trình chế biến cũng như sơ chế, bảo quản. Rau quả rất có lợi cho sức khoẻ do cung cấp các loại vitamin.

Nên ăn nhiều vào bữa sáng (1/3 năng lượng cả ngày) và chia nhỏ các bữa ăn tiếp theo. Nên ăn giàu năng lượng, giàu đạm, uống nhiều nước, đặc biệt những thức uống có chứa dưỡng chất, sữa hạt, nước ép (trái cây, rau, thịt) , thức ăn nghiền… và nên đa dạng hoá thức ăn, tạo không khí vui vẻ, thoải mái trong bữa ăn…

Súc miệng trước khi ăn giúp giảm cảm giác đắng miệng, ăn những loại trái cây có vị chua như cam, quýt, chanh, bưởi… (ngoại trừ trường hợp những bệnh nhân đang bị tổn thương đau ở miệng, hầu họng).

Đối với những ung thưvề đường tiêu hóa như Dạ dày, Thực quản…nhất là sau phẫu thuật có thể có nhiều biến chứng: hội chứng trào ngược, khó tiêu, chán ăn…làm giảm khả năng muốn ăn của bệnh nhân. Nên ăn các thức ăn dễ tiêu mà vẫn đảm bảo dinh dưỡng, đồng thời hạn chế đồ khó tiêu như: mỡ, thịt chó, thịt bò. Bên cạnh đó, cũng nên chia nhiều bữa nhỏ; cháo dinh dưỡng, thịt băm nhỏ, thịt xay (thịt trắng, thịt gia cầm).

Có thể tận dụng sữa, nhưng cần chú ý khi cho người bệnh dùng sữa bởi dạ dày có men tiêu sữa, giúp cho quá trình chuyển hóa sữa. Khi cắt dạ dày, sữa có thể sẽ khó tiêu, nên uống sữa nguồn gốc từ thực vật như sữa đậu nành, giàu canxi.

Hoá trị liệu hoặc xạ trị ở vùng đầu, cổ… có thể gây ra sự giảm tiết nước bọt và dẫn đến khô miệng, góp phần làm tình trạng chán ăn càng trầm trọng. Trong trường hợp này, cần lưu ý: nên ăn thức ăn mềm hoặc chế biến nhiều nước; nhai kẹo cao su hoặc ăn thêm hoa quả chua nhằm tiết nước bọt hơn, tránh ăn nhiều đường; sử dụng đồ tráng miệng ướp lạnh; vệ sinh răng miệng và súc miệng tối thiểu 4 lần 1 ngày; uống nhiều nước và uống từng ngụm mỗi vài phút…

Đau và nhiễm trùng miệng, hầu họng… thường hay gặp ở những bệnh nhân ung thư đang phải chịu xạ trị, hoá trị liệu hoặc đang có những vấn đề nhiễm trùng. Khi thấy đau răng miệng, đầu tiên nên gặp bác sĩ chuyên khoa để đảm bảo chắc chắn rằng vấn đề đau ở đây là do tác dụng phụ của liệu pháp điều trị chứ không phải do các bệnh răng miệng gây ra. Nên ăn những thực phẩm mềm, dễ dàng nhai và nuốt; như trái cây mềm, phô mai, bún, mỳ, miến, sữa, bột ngũ cốc… Người bệnh cũng nên tránh ăn cay, mặn.

Đa phần bệnh nhân hoá trị liệu thường buồn nôn và nôn. Lời khuyên là nên cho người bệnh ăn trước khi đói vì cơn đói làm tăng cảm giác buồn nôn; uống nhiều nước, uống chậm, nhiều hớp trong ngày; tránh những thức ăn dầu mỡ, cay nồng, nặng mùi…; ăn thành nhiều bữa nhỏ và ăn những thực phẩm khô như bánh quy giòn, bánh mì nướng…

Vấn đề uống nước cũng là vấn đề thường gặp. Người bệnh thường ngại uống nước. Nhưng với bệnh nhân ung thư, lời khuyên là nên uống 8-12 ly nước mỗi ngày. Nước ở đây có thể là nước chín, nước ép rau, quả, sữa hoặc những thực phẩm có chứa nhiều nước… Điều quan trọng là uống nước ngay cả những lúc không khát…

Táo bón cũng là một vấn đề rất thường thấy ở bệnh nhân ung thư. Nguyên nhân có thể là do thiếu nước hoặc thiếu nhiều chất xơ trong chế độ ăn, thiếu hoạt động thể lực, những tác động bởi liệu pháp điều trị. Nên ăn chế độ ăn nhiều chất xơ (lượng xơ khuyến cáo là 25-35g cho 1 người/ngày) và uống từ 8-10 ly nước mỗi ngày; nên đi bộ và vận động thường xuyên.

  • Thực phẩm kiềm hóa cơ thể:

Nên ăn những thực phẩm có tính kiềm và hạn chế thực phẩm có tính acid:

1. Kiềm mạnh

Gồm những loại rau non, tươi; trái cây mọc hoang được hái chín cây. Dưa tây (melon) được xem là có tính kiềm mạnh, kế đó là chà là, xoài, đu đủ, những loại dịch ép trái cây tươi, nước ép dược liệu, rau cải ăn sống, xà lách xoong, rong biển…

2. Kiềm nhẹ:

Đậu, giá, hạt… Đậu khô có tính acid nhẹ nhưng khi thành giá, chúng trở nên có tính kiềm trung bình. Đậu tươi có tính kiềm nhẹ, đặc biệt khi chúng còn xanh.
Dược liệu khô, trà dược, rau cải, các loại hạt, gia vị tươi (đặc biệt là gừng, gừng càng tươi thì kiềm tính càng cao), mật… là những thực phẩm thể hiện tính kiềm nhẹ.

3. Trung tính:

Dầu thực vật, sản phẩm từ đậu nành, đậu luộc, hạt rang…

4. Axit nhẹ:

Trà, cà phê, gà vịt, rượu nguyên chất, bơ, phó mát (cheese), bánh nướng, khoai tây, muối tinh luyện, dấm trắng, sốt cà chua….

5. Axit mạnh:

Thịt đỏ, chất làm ngọt nhân tạo, dược phẩm, thức uống có ga, nước ngọt. Đường thẻ trắng là một loại thực phẩm có tính axit mạnh. Thức uống đóng hộp là “hại” nhất vì chúng chứa đường, chất làm ngọt nhân tạo với hàm lượng cao axit phosphoric…. Các loại thức uống này sau khi tiêu hóa sẽ để lại một “kho” axit trong cơ thể chúng ta.

Các loại dịch ép trái cây nếu được uống ngay sau khi ép thì có tính kiềm, nhưng nếu đã đóng hộp hoặc lưu trữ lâu thì lại có tính axit.

Trong đời sống, chúng ta vẫn thường phải ăn những loại thực phẩm có tính axit. Với những trường hợp này, tính axit có thể được trung hòa nếu bạn ăn thêm một ít rau cải tươi. Tuy nhiên, để trung hòa tính axit, ta không cần phải dùng những thực phẩm có tính axit và kiềm trong cùng một bữa ăn. Chẳng hạn, ta có thể bù đắp kiềm tính cho khẩu phần ăn có tính axit sau vài giờ (sau khi thức ăn có tính axit đã được tiêu hóa) bằng một ít dưa tây. Nếu một bữa ăn đảm bảo được 10% protein và 90% rau cải thì nó sẽ có tính chất từ trung tính đến kiềm nhẹ.

Các thực phẩm có nhiều tính kiềm là những loại giàu enzyme và ở trạng thái tự nhiên. Chúng sẽ trở nên axit hơn nếu được nấu không đúng cách (đặc biệt là thực phẩm rán, cháy). Các loại thực phẩm để lâu, đóng hộp, xông khói hoặc làm khô, thức ăn chứa những hóa chất dùng trong chế biến cũng giàu axit.

3. Luyện tập và thư giãn

Bệnh nhân ung thư thường bị suy sụp tinh thần, bi quan làm mất đi niềm tin vào các phương pháp điều trị. Càng lo âu, căng thẳng, cơ thể bệnh nhân càng tăng tiết acid và càng tạo môi trường cho Ung thư phát triển. “Tinh thần quyết định một nửa cơ hội chiến thắng ung thư”

Lạc quan, Tin tưởng

Hãy tin vào chính bạn, bạn mới là chủ cuộc sống của mình, bạn đủ sức sống để chống chọi lại với bệnh tật. Hãy tin vào nguồn tin khoa học, tin vào những người tư vấn đúng đắn và tin mình chắc chắn khỏi bệnh.

Thư giãn

– Ung thư là một căn bệnh của cơ thể, tâm trí và tinh thần. Một thái độ hoạt động và tích cực hơn sẽ giúp các bệnh nhân ung thư chiến đấu và sống còn. “Giận dữ và không hiểu biết, không tha thứ sẽ đặt cơ thể vào tình trạng căng thẳng và một môi trường axit”. Học để có tâm hồn khả ái và yêu thương với một thái độ sống tích cực là rất có lợi cho sức khỏe. Học thư giãn và tận hưởng cuộc sống.

– Các tế bào ung thư không thể sống trong một môi trường dưỡng khí. Luyện tập thể dục hàng ngày, hít thở sâu giúp lấy thêm nhiều oxy vào các tế bào. Liệu pháp oxy là một yếu tố giúp tiêu diệt các tế bào ung thư.

– Tập thiền sẽ giúp bạn bớt lo âu, trở về trạng thái tâm lý cân bằng, cơ thể được thả lỏng, giảm tiết acid, tăng cường miễn dịch và hỗ trợ điều trị.

– Người bệnh trong quá trình điều trị vô cùng mệt mỏi nhưng hãy cố gắng nghỉ ngơi và thư giãn bất cứ lúc nào có thể hoặc đơn giản là hít thở sâu, chậm rãi cũng giúp kiềm hoá cơ thể.

– Ngâm nước muối gừng ở nhiệt độ 40độ trong vòng 15p mỗi ngày giúp thư giãn, làm ấm cơ thể, thông kinh hoạt lạc.

4. Yếu tố gia đình, cộng đồng:

Cuối cùng, nguồn động viên, an ủi chăm sóc yêu thường từ những người thân trong gia định, từ bạn bè, xã hội là một sức mạnh to lớn giúp người bệnh mạnh mẽ vượt qua được bệnh tật hoặc ít nhất là xoa dịu nỗi đau đớn trong quá trình điều trị. Các bạn không thể tưởng tượng được, tình yêu có sức mạnh kỳ diệu như thế nào.

Sự yêu thương, giúp đỡ, chia sẻ, động viên giúp ích rất nhiều cho bệnh nhân ung thư. Những lời khuyên từ người nhà đối với bệnh nhân Ung thư rất quan trọng, tuy nhiên hãy thận trọng và tìm hiểu thật kỹ, mang tính khoa học để tránh lợi bất cập hại cho bệnh nhân.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *