Ung thư cổ tử cung (cổ tử cung nham) dùng đông y có được không?

Ung thư cổ tử cung!

Câu hỏi: Tôi đã nghe nói nhiều về bệnh Ung thư cổ tử cung và các phương pháp điều trị hiện nay. Tuy nhiên tôi cũng được biết điều trị Tây Y có nhiều mặt hạn chế nên tôi muốn tìm hiểu về điều trị Ung thư theo YHCT và muốn kết hợp điều trị đông tây y? BS có thể nói rõ cách điều trị Ung thư cổ từ cung theo YHCT và sử dụng Tabo-K trong trường hợp này có hiệu quả không ạ? Cảm ơn BS.

Theo đông y Ung thư cổ tử cung còn được gọi là Cổ tử cung nham. Cổ tử cung nham là một loại thũng lưu ác tính ở cơ quan sinh dục nữ giới. Đặc điểm lâm sàng thời kỳ đầu thường nghèo nàn, bệnh nhân thường không có cảm giác gì đặc biệt, chỉ khi thũng nham phát triển đến mức độ nhất định thì triệu chứng mới rõ, chủ yếu là bài xuất dịch ở âm đạo, sau kỳ kinh thấy âm đạo xuất huyết.

Ung thư cổ tử cung!
Ung thư cổ tử cung!

Hiện nay, theoY học hiện đại điều trị bệnh này chủ yếu là dùng xạ trị hoặc hóa trị liệu, phẫu thuật, hoặc là điều trị tổng hợp. Tuy nhiên, tất cả phương pháp trị liệu trên đều có phạm vi thích ứng nhất định và đều có phản ứng phụ của thuốc, bệnh nhân thường không muốn áp dụng.

Các thời kỳ lâm sàng: Tiêu chuẩn của Hội nghị phụ khoa Quốc tế, (1985) chia làm 4 thời kỳ:

  • Giai đoạn 0: Nham nguyên vị tẩm thấm tiền nham.Giai đoạn I: Xác định sinh thiết (tổn thương phát triển đến thân tử cung).
  • Giai đoạn II: Tổn thương vượt quá cổ tử cung lan đến <1/3 âm đạo.
  • Giai đoạn III: U phát triển đến thành xương chậu (xâm phạm đến 1/3 âm đạo).
  • Giai đoạn IV: U phát triển khắp tử cung và lan đến các cơ quan khác.

Theo quan niệm y học cổ truyền

Bệnh cổ tử cung nham thường được mô tả trong các phạm trù, “băng lậu” “đới hạ” “tạp sắc đới”. Nguyên nhân chủ yếu là do 3 tạng: can, tỳ, thận bị tổn thương làm cho thấp nhiệt – nhiệt độc ngưng tụ ở bào cung. Y học cổ truyền cho rằng: “ bệnh thuộc về bản hư, tiêu thực”.

Điều trị bệnh vừa phối hợp thuốc uống trong, vừa phối hợp dùng ngoài, nâng cao chức năng miễn dịch của cơ thể, phù chính, bồi bản, tiêu lưu kháng nham, bảo tồn chức năng sinh dục và chức năng sinh lý bình thường của cơ thể. Ngoài ra, có thể phối hợp hóa trị liệu, xạ trị để giảm bớt tác dụng phụ, cải thiện chứng trạng, nâng cao hiệu qủa, kéo dài đời sống cho bệnh nhân.

Hiện nay, điều trị ung thư cổ tử cung phải dựa vào giai đoạn lâm sàng của y học hiện đại với biện chứng luận trị Trung y.

Biện chứng luận trị:

Đặc điểm bệnh sinh của cổ tử cung nham là bản hư tiêu thực, hoặc hư thực phối hợp nhưng phần nhiều là chứng hư. Vì vậy phải bổ ích xung nhâm, bồi bổ can thận tỳ là phép tắc chủ yếu:

Kiện tỳ ích khí, tư bổ can thận, phù dương cố thể (bản) chi pháp.

Khí – huyết ứ trệ, nhiệt độc trệ lưu, hình thành tích tụ là tiêu thực.

Ứng dụng lý khí hoạt huyết, hóa ứ nhuyễn kiên, trừ thấp giải độc, kháng nham tiêu lưu.

Về pháp điều trị:Phải nắm vững tà chính thịnh – suy; chọn dùng trước công, sau bổ, công bổ kiêm trị (thường thời đầu phải công, thời kỳ sau phải bổ). Nhìn chung không kể sớm hay muộn đều phải chọn các vị thuốc kháng nham.

Thể khí uất thấp khốn:

Ức uất thương can, can khí uất kết, uất lâu thương tỳ, thủy thấp lâu thương tỳ, thủy thấp nội đình uẩn kết xung nhâm dẫn đến bệnh. Nhìn chung hệ thống thần kinh trung ương thất điều, chức năng của hệ thần kinh thực vật bị rối loạn là chủ yếu, tình chí uất ức phiền táo; ngực, sườn chướng đầy, bất thử, tức nhiều, ăn kém (nạp ngại), đới hạ bất chỉ, đục hoặc hồng, mạch huyền; lưỡi hơi xám, rêu trắng mỏng hoặc vàng mỏng.

Phương pháp điều trị: Sơ can lý khí, lợi thấp giải độc.

Thể khí – huyết ứ trệ:

Tại chỗ tẩm thấm là chính thuộc kết hạch, triệu chứng toàn thân nghèo nàn, đa phần do quá tổn thương thất tình, uất nộ ưu tư, khí trệ huyết ứ lâu ngày thành kết, thường thấy đới hạ không nhiều cát hữu thấp hạ; tại chỗ bệnh lý cổ tử cung rắn chắc, mạch huyền hoặc tế, đầu lưỡi hoặc rìa lưỡi có ban điểm ứ huyết, rêu trắng mỏng.

Pháp điều trị: hoạt huyết – hóa ứ, nhuyễn kiên – tán kết.

Thể thấp nhiệt ứ độc:

Thấp uẩn hóa nhiệt, lâu mà kết độc, ứ trở bào lạc mà thành; đa phần ung thư cổ tử cung do viêm nhiễm, đới hạ lượng nhiều, vàng trắng xen lẫn chất dính có màu sắc như Socola; khí tắc nếu kiêm huyết ứ thành cục, lưng mỏi, bụng chướng đau, miệng khô đắng, tiểu vàng, đại tiện táo, lưỡi hồng, rêu lưỡi vàng dày nhờn, mạch huyền sác hoặc huyền hoạt sác.

Phương điều trị: thanh nhiệt lợi thấp – giải độc hóa ứ.

Thể tỳ thận dương hư:

Lịch sử bất tiết, đa sản thương thân, xung nhâm khí – huyết trở trệ, nội kết ứ độc; bệnh lâu ngày đới hạ băng lậu tiêu hao nhất định, toàn thân suy kiệt.Lâm sàng phần nhiều đới hạ như nước, kinh nguyệt băng trung trọc hạ thần quyện (mệt mỏi, vận động khí đoản), tứ chi không ấm, nạp ngại tiện lỏng, niệu trong dài, mạch tế, lưỡi nhợt bệu mềm, rêu trắng mỏng nhờn.

Phương pháp điều trị: Bổ thận kiện tỳ – ôn hóa thủy thấp – cố sáp chỉ đới.

Thể can thận âm hư:

Do thấp nhiệt uất kết, ứ độc trong cơ thể lâu ngày gây tổn thương phần âm, can thận hao tổn xuất hiện triệu chứng nhiễm độc. Lâm sàng thấy âm đạo xuất huyết không theo qui tắc, đới hạ vàng trắng, đầu choáng, tai ù, lưng đau mỏi, miệng khát, tự hãn (mồ hôi trộm), tiểu tiện sáp đau, đại tiện bí kết, lưỡi đỏ rêu sáng hoặc vàng nhờn, mạch tế sác, huyền tế sác.

Phương pháp điều trị: tư dưỡng can thận – giải độc tán tích.

Giai đoạn sau của bệnh cổ tử cung nham diễn biến phức tạp, tà chính tương tranh, phải kết hợp công bổ kiêm trị. Nếu kết hợp xạ trị và hoá dược trị thì phải chú ý các biến chứng phụ thường gặp.

PHÂN TÍCH CÁC THÀNH PHẦN DƯỢC LIỆU QUÝ TRONG TABO-K

Các vị thuốc trong sản phẩm Tabo k được phối ngũ với nhau một cách hài hòa và có chủ đích. Bài thuốc Đông y không kết hợp với nhau tùy tiện, mà theo trật tự nghiêm ngặt, trong đó có chủ có thứ, có chính có phụ như “Quân-Thần –Tá- Sứ” trong một nước, không thể tách rời. Như cách điều trị “toàn diện” của Đông Y. “Trăm ngàn bệnh quy về một mối”, nguyên nhân phát sinh ra bệnh là mất cân bằng Âm dương. Vì vậy Tabo-K mong muốn đưa tới bài thuốc với mục đích điều trị bệnh một cách toàn diện, lập lại thế cân bằng âm dương trong cơ thể, theo nguyên tắc thanh lọc điều hòa, bồi bổ, phòng bệnh trước khi phát bệnh.

  • Cao Bán chi liên, Cao cỏ lưỡi rắn, Curcumin phytosome có vai trò quan trọng trong bài thuốc với tác dụng Thanh nhiệt giải độc, đào thải độc tố cơ thể. Hoạt huyết hóa ứ, tiêu diệt và làm chậm sự phát triển của tế bào Ung thư, tăng cường sức đề kháng của cơ thể. Đây là vị thuốc không thể thiếu có vai trò là “Quân dược”. Cao cỏ lưỡi rắn tiêu diệt tế bào ung thư, cao Bán chi liên giúp loại bỏ độc tố ra khỏi cơ thể, 2 vị thuốc này luôn đi cùng nhau, hỗ trợ nhau không thể tách rời.
  • Cao linh chi đỏ, Cao bảy lá một hoa, Cao vỏ thông đỏ, Thymomodulin: Có tác dụng phụ trợ cho vị thuốc “ Quân dược” làm tăng tác dụng của cả bài thuốc có vai trò là “Thần dược”. Vị thuốc này cũng có tác dụng hỗ trợ thanh nhiệt giải độc cơ thể, chống oxy hóa, khử gốc tự do, làm mất đi môi trường sống của tế bào ác tính. Đồng thời bổ dưỡng cơ thể, tăng cường miễn dịch tế bào, tăng cường chức năng gan thận. Đặc biệt là khi bệnh nhân phải sử dụng đến các biện pháp như phẫu thuật, hoá trị liệu, xạ trị liệu, cơ thể suy nhược, người mới ốm dậy…
  • Selen, Beta caroten: Các vị thuốc này có vai trò “Tá dược” của bài thuốc. Có tác dụng hỗ trợ “Quân dược” và “Thần dược”. Selen và Beta caroten là chất chống oxy hóa mạnh giúp tăng cường miễn dịch, làm chậm sự phát triển của khối u, kéo dài thời gian sống của bệnh nhân ung thư. Selen kết hợp với beta caroten làm giảm tử vong do ung thư da, ung thư tuyến tiền liệt…
  • Kẽm gluconate, Vitamin B1, B5, B6 là những hoạt chất giúp tăng cường chuyển hóa có tác dụng như “ Sứ dược” giúp dẫn và đưa thuốc vào cơ quan, tế bào đích chính xác và hiệu quả nhất.

Với việc lấy nguyên lý phối ngũ trong Đông y “Quân-thần- tá -sứ” làm nền tảng, Tabo K đảm bảo nguyên lý trị bệnh một cách toàn diện, lặp lại thế quân bình Âm Dương trong cơ thế, kết hợp trị cả gốc lẫn ngọn, tại chỗ và toàn thân, giữa gián tiếp nâng cao sức đề kháng của cơ thể với tác động trực tiếp vào các nhân tố gây bệnh theo cơ chế “ Công bổ kiêm thi”, “Thanh- Điều- Bổ- Phòng”: Thanh: Thanh lọc, bài trừ độc tố, khử gốc tự do làm sạch tế bào. Điều: Điều hòa âm dương, lưu thông khí huyết, điều chỉnh nội tiết. Bổ: Bổ sung dinh dưỡng, khoáng chất, yếu tố vi lượng đầy đủ và hợp lý. Phòng: Phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh. Chính vì vậy Tabo-k tạo nên một sức mạnh tổng hợp có thể trị bệnh một cách toàn diện nhất.

Vì vậy Tabo-K không những là giải pháp hữu hiệu cho người bệnh mà còn là giải pháp tuyệt vời cho tất cả mọi người trong vấn đề phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *